Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2025

Về Logos và “thiên nhiên ẩm ướt,” hay mối quan hệ giữa trật tự phụ quyền và không gian mẫu tính

Trong tư tưởng cổ điển phương Tây, Logos là nguyên mẫu thiêng liêng đời đời (Ân Sư), còn thế giới tự nhiên ẩm ướt là sự thoái giáng bi kịch của nó—sự kiện khởi nguyên (mà Nietzsche gọi là “sinh ra đã chịu khổ”). Tuy nhiên không có sự chia cắt thật sự, vì Logos rồi sẽ trở về với tự nhiên (trong thần học Kitô giáo, qua sự Phục sinh của Đấng Christ—Con Thiên Chúa). Mẫu tính thiên nhiên phải tiếp nhận và bắt chước Logos: bà bị phân rã thành các nguyên tố rồi được tái tổ chức theo Logos. Việc tiếp nhận và bắt chước Logos ấy chính là Thần Khí (Chúa Thánh Thần).

Mô hình cứu rỗi mang tính sử thi và thần linh này đạt tới đỉnh cao trong Thần Khí Tuyệt Đối của Hegel: “đêm thế giới” chính là sự phân mảnh của mọi tính trực tiếp tự nhiên, còn quá trình thăng hoa biện chứng là chuyển động của Thần Khí Tuyệt Đối—một ma trận các phạm trù lý tính không ngừng được làm mới, đặt trật tự lên hỗn nguyên tự nhiên.

Tuy nhiên, trong triết học thế kỷ XX, thiên nhiên ẩm ướt hay không gian mẫu tính vẫn là một chất liệu chịu đựng lịch sử, nhưng Logos không còn là nguyên mẫu thiêng liêng bất biến. Thay vào đó, Logos, hay trật tự phụ quyền, chỉ là những lớp địa tầng lịch sử luân phiên, được khắc ghi vào mẫu tính tự nhiên dưới hình thức các giai đoạn lịch sử hữu hạn.

Xuất phát từ đó, Derrida và Kristeva tìm đến Timaeus của Plato để phục hồi khái niệm chôra—một “bình chứa” chịu đựng các địa tầng lịch sử và biến chuyển của trật tự phụ quyền. Kristeva phân biệt cõi tượng trưng (symbolic) với cõi ký hiệu (semiotic): cõi tượng trưng là Logos, trật tự ngôn ngữ; còn cõi ký hiệu là lĩnh vực trước ngôn ngữ, trước Oedipus, một không gian thi ca chưa được tích hợp vào trật tự phụ quyền. Derrida đặt hình ảnh Socrates vào vai chôra: ông mời gọi đối thoại biện chứng để hoãn lại mọi trực giác thông thường. Nhưng biện chứng của Socrates là sự lui bước chứ không phải thăng hoa—ông không tin mình có thể đạt đến Chân lý vĩnh hằng; ngược lại, ông tự nhận mình vô tri (trật tự phụ quyền không tồn tại). Vì vậy, biện chứng là một cuộc rút lui liên tục, mở ra không gian cho “sự sinh ra của Chân lý.” Đó chính là nghi ngờ—mang thai những câu hỏi.

Hơn nữa, Socrates như chôra còn được xác định bởi khả năng chịu đựng: ông không chỉ áp đặt nghi ngờ hay biện chứng lên người đối thoại, mà còn mang trong mình dấu ấn (dấu vết) họ để lại. Chân lý không tồn tại—những gì còn lại chỉ là những dấu vết. Socrates chính là không gian mẫu tính tiếp nhận chúng. Ông không chỉ mang thai nghi ngờ mà còn mang thai tất cả những dấu vết đó. Socrates là bình chứa của nghi ngờ và dấu vết—ông là “bà mẹ” của cộng đồng lý tính.

Dựa trên đó, mối quan hệ giữa trật tự phụ quyền và không gian mẫu tính bị đảo ngược: không phải Logos thánh thiện hạ xuống thành tự nhiên ẩm ướt bẩn thỉu rồi phải được tái thiêng hóa để đạt được sự cứu rỗi; ngược lại, chính không gian mẫu tính liên tục nuôi dưỡng thành bang lý tính cùng các địa tầng lịch sử của nó. Trật tự phụ quyền đúng hơn là một trường vấn đề, nơi không hề có tính xác định tuyệt đối (hay tính vĩnh hằng bất biến) của chân lý (xem cách Deleuze DR xử lý khái niệm “vấn đề”). Mọi người cùng tổ chức trật tự biểu tượng (khung lý giải, tức kiến thức) xung quanh một “vấn đề tiên nghiệm,” và tất cả chúng ta đều là những đứa trẻ để lại dấu ấn trong thành bang ấy và lịch sử của nó. Thế nhưng, kẻ tiếp nhận mọi dấu ấn đó chính là Mẹ—tức bản thân trường vấn đề kia. Lao động hữu hạn và thể chế lịch sử đều là “những đứa con” sinh ra từ “vấn đề.”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bataille

Từ thời trung học, tôi đã từng say mê nhiều tác phẩm của Bataille. Cuộc gặp gỡ của tôi với ông bắt đầu qua việc đọc Baudrillard: Baudrillard...