Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026

 Michel Serres từ lâu đã chỉ ra trong cuốn Cải cách hay Bảy tội lỗi rằng sự thanh lọc (catharsis) mà Gaston Bachelard yêu cầu phụ thuộc đến mức nào vào đạo đức, thậm chí có thể phụ thuộc vào tôn giáo. Theo Bachelard, cái phi-khoa học có thể được phác họa chính xác thông qua năm tội lỗi chủ yếu: sự kiêu ngạo và lười biếng luôn bị lên án trong Sự hình thành của tinh thần khoa học, còn “phân tâm học của tinh thần hiện thực luận” (chương VII) lên án kẻ hà tiện; “huyền thoại của sự tiêu hóa” (chương VIII) phơi bày những kẻ phàm ăn đắm chìm trong sự tê liệt dễ chịu; và “libido” (chương X) quất roi vào những kẻ buông thả theo khoái lạc.

Còn đối với sự đố kỵ và phẫn nộ, thì “thực hành của khoa học thực chứng lại trân trọng gìn giữ những tàn dư của các thói xấu này, như thể chúng là các đức hạnh — chính là các đức hạnh của bản thân nó.” Luận đề mà Bachelard không ngừng nhấn mạnh  rằng con người chỉ sở hữu chân lý khi đứng trong trạng thái phản đối (phản đối ý kiến, tri thức trước đó, hoặc chính bản thân mình) chứng minh điều này rõ hơn bất cứ điều gì.

Vì vậy, Sự hình thành của tinh thần khoa học trước hết là một cuốn sách về cải cách tinh thần: “Không tìm thấy một lời nào của phân tâm học trong Sự hình thành, nhưng nếu lắng nghe một cách trung thực, ngôn ngữ mà nó sử dụng lại mang một nội dung đạo đức.”

Ở đây tồn tại một sự trở lại của chủ nghĩa duy linh bị dồn nén, điều này cho thấy Gaston Bachelard gặp khó khăn khi tìm cách khảo sát khoa học mà không dựa trên những tiền giả định, đặc biệt là các tiền giả định mang tính đạo đức. Khi ta chuyển sang căn tính khác của Bachelard — nhà phê bình văn học — thì điều này trở nên rõ ràng hơn. Tại đó, trong khi triết gia này nghiêm túc suy tư về khoa học, ông đồng thời cũng đắm mình trong ánh sáng và dòng chảy của thi ca. Tuy nhiên, cho đến một giai đoạn khá muộn, ông vẫn chỉ gán cho những tác phẩm “tự do hơn” của mình về hình ảnh một chức năng hoàn toàn mang tính phủ định và phê phán, tức là chức năng thanh trừ những co thắt tâm lý của tinh thần.

Trong lời tựa của Phân tâm học về lửa,được xem như phần bổ sung thi ca cho Sự hình thành của tinh thần khoa học , sau khi nhắc nhở độc giả rằng: “cuốn sách này sẽ không làm gia tăng kiến thức của các bạn chút nào,” Bachelard còn thẳng thắn thừa nhận rằng ông đã tiến hành một sự tự kiểm duyệt đối với chính mình:
“Nếu thực sự muốn viết ra những điều ngu ngốc, thì việc xuất bản một cuốn sách dày là điều quá dễ dàng.”

Phải đợi đến Thi pháp của không gian, những “suy tưởng về giấc mơ của giấc mơ” này mới được thừa nhận, và “quyền của giấc mơ” mới được trao trả. Từ đó, vai trò tích cực của trí tưởng tượng mới được công nhận: nó gắn liền với sự phát triển của một hình thức chủ thể tính tách biệt khỏi tinh thần truy cầu tri thức khách quan — một chủ thể tính được hiểu như một linh hồn khao khát truyền đạt các hình ảnh của chính mình sang những linh hồn khác.

Một cách đầy mỉa mai, chính hiện tượng học lại cung cấp nền tảng lý thuyết cho thi pháp này:
“Chỉ có hiện tượng học — tức việc khảo sát sự hình thành của hình ảnh từ ý thức cá nhân — mới có thể giúp chúng ta khôi phục tính chủ thể của hình ảnh, và đo lường chiều rộng, sức mạnh và ý nghĩa liên-chủ-thể của nó.”

(Ngụ ý: chính một phương pháp vốn được xem là nghiêm túc và triết học — hiện tượng học — lại được sử dụng để hợp thức hóa một lĩnh vực mong manh, chủ quan, và thi ca như trí tưởng tượng.)










Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Khi tôi về thì lúc nào cũng là cuối ngày. Trong căn phòng không bao giờ bật đèn, và những bức tường trắng dần ngả sang xanh đậm và tím sẫm. Khi cố nhìn, tôi không thể phân biệt được chi tiết của đồ đạc hay vật dụng, và đường nét gương mặt anh cũng tan biến theo cùng một cách. Căn phòng không rộng. Theo thời gian tôi dần hiểu rằng đó là một trong những thói quen kỳ quặc của anh ta: ngồi yên lặng trong không gian này và nhìn ánh nắng rút khỏi ngày, đồng thời (anh nói với tôi) cảm nhận chính mình cũng đang phai đi hoặc giãn nở trong bóng tối. Trước hết là xuyên qua chính căn phòng, rồi tràn ra ngoài, vào khoảng không trống rỗng bên kia cửa sổ, cao lên từng ấy tầng so với con phố phía dưới. Bình thản chìm vào bóng tối, anh luôn ngồi ở vị trí đối diện tôi, để bóng dáng tôi hiện lên trước những tấm kính màu chì rộng và phát sáng chiếm trọn một bức tường của căn phòng. Bầu trời xanh đậm, gần như đen, và những tia nắng cam cuối cùng lóe lên như vệt lửa vạch ngang bề mặt kính của các tòa nhà ngân hàng lấp đầy trung tâm thành phố. Lúc chạng vạng bao giờ tôi cũng trở về căn hộ đẹp đẽ đó, xây trên những con kênh của khu ngân hàng. Tôi nghĩ anh thích nhìn cách cơ thể trẻ hơn của tôi sắp đặt không gian mở; cách bóng tối tụ lại trên ngực và cánh tay tôi, trong hõm cổ họng tôi. Khi nhớ lại những buổi chiều ấy, chúng kéo giãn một cách kỳ lạ. Anh ngồi im lặng còn tôi thì dần mê sảng, mất cảm giác về thời gian, và sự giãn nở cùng ánh sáng phai tàn ấy đóng khung hoàn hảo một phần nào đó trong tôi mà khi ấy tôi thấy mờ tối và đến giờ vẫn vậy; một thứ gì đó vừa phàm ăn vừa sinh động, đồng thời lại phảng phất mùi chết chóc. Nhưng cũng là một thứ hài hước, mà mỗi khi tôi chạm được tới nó, nó lại nhắc tôi nhớ tới những nhà văn tôi yêu, những người mà chính sự hài hước đã bảo đảm cho họ đi qua được những phong cảnh của đau đớn và sa đọa. Tôi từng nghĩ họ hẳn là bất khả hủy diệt. Tôi chưa bao giờ biết có phải chính phần này trong tôi đã giữ được sự quan tâm của anh hay không, nhưng tôi trở lại hết lần này đến lần khác vì đó là thứ tôi không dễ kết nối, và vì tôi tìm thấy khoái cảm trong sự kết nối ấy; và cũng vì tôi thích cách đôi khi anh mô tả tôi cho chính tôi nghe, nói tôi có thể làm gì, kể cho tôi những câu chuyện về giới hạn của tôi theo cách anh nhìn thấy: trí tuệ, thể chất, dục tính, đủ loại giới hạn. Tôi thích được nghe người khác nói về mình, và cũng thích quan sát cách những bất an của chính anh lộ ra trong những phán xét ấy. Tôi không biết anh có thích quãng thời gian chúng tôi ở bên nhau không. Thành thật mà nói, tôi nghi ngờ rằng anh có bất kỳ khả năng tiếp cận nào với những kiểu khoái cảm như thế. Nói chung anh luôn bị ám ảnh bởi công việc, mà anh nói với tôi nhiều lần là việc tổng hợp và trung gian giữa rất nhiều ngành học thuật khác nhau. Anh uống rượu, và khi say thì nói rằng thực ra anh là một kiểu cố vấn, và chuyên môn của anh được săn đón cả trong khu vực tư lẫn công. Theo thời gian, anh bắt đầu nói một cách trừu tượng hơn, về sự ngây thơ, hoặc về một lịch sử của hình ảnh mà anh đã lần ra trong nghiên cứu của mình; những hình ảnh của sự tàn ác, những hình ảnh của tra tấn. Anh gọi chúng là các công nghệ của đế chế. Anh bị ám ảnh bởi sự kiểm soát tâm lý và vật chất; đối với con người, cộng đồng, đối với quần thể và những ham muốn của họ. Anh nói nhiều về kể chuyện (dường như chỉ trên mạng) và về quang học, và về việc phát tán hóa chất vào hệ thống nước. Endorphin, chất kích thích, chất ức chế, đủ loại hormone. Những thứ độc chậm. Anh nói về tầm quan trọng của việc hiểu rằng cái chết và đau khổ là tùy tiện, rằng những điều ấy có thể xảy ra với bất kỳ ai, vào bất kỳ lúc nào. Anh đã phát triển một thí nghiệm tư tưởng để minh họa điều này: anh mô tả cho tôi một cỗ máy vô hình có thể được sản xuất hàng loạt và rải khắp đường phố thành phố một cách ngẫu nhiên, và sẽ xé nát bất kỳ ai không may bước vào nó. Khi anh nói như vậy, từ “ngây thơ” xuất hiện lặp đi lặp lại. Anh nói rằng để một cộng đồng có thể nhận ra chính mình, nó cần một hình ảnh về sự ngây thơ. Không có điều đó, các thành viên sẽ không thể đánh dấu những nạn nhân để hiến tế, và cộng đồng sẽ không bao giờ thực sự kết dính. Khi anh nói, tôi chơi trò phân ly, trôi gần rồi lại trôi xa khỏi căn phòng và khỏi giọng nói của anh, và cứ để cho tất cả những ý tưởng và công thức ấy trượt qua cơ thể tôi như những hoa văn hình thành trên mặt nước. Làn da trên ngực và mặt tôi giống như bề mặt của một hồ sâu mà tôi bằng cách nào đó đã chìm xuống đáy, một hồ yên tĩnh, đẫm ánh nắng vàng của cuối hạ, khiến các chuyển động của nước phát sáng và lấp lánh thành những mô thức, những thác đổ của ánh trắng chói và lửa cam lỏng. Từ lớp bùn mềm dưới đáy, tôi có thể nhìn chuyển động của bề mặt từ bên dưới, ngước lên qua từng mét, từng mét khoảng cách và những dòng chảy dày đặc chuyển động vô hình, lên tới không khí nơi nó vỡ ra và phồng lên, rồi cuối cùng vượt qua cả điều đó nữa, tới sự trống rỗng của bầu trời. Anh chưa bao giờ mời tôi uống rượu hay dùng chất gì khác, dù tôi nhớ rằng trong lúc ngồi đó, lúc rõ lúc mờ, một thứ tê hóa hóa học hay sự phân tán mơ hồ là điều duy nhất trên đời tôi khao khát. Dù sao thì tôi cũng sẽ không bao giờ hỏi anh. Những lời đáp của tôi rất dễ dàng, và tôi cố không đặt quá nhiều trọng lượng hay suy nghĩ vào chúng. Đó đơn giản là tất cả những gì tôi còn nhớ từ quãng thời gian ấy.

Bây giờ thì mọi thứ đã khác. Trước hết là tôi có những căn phòng và chỗ trú ẩn của riêng mình. Tôi có những hình ảnh của riêng tôi để sưu tầm và sắp đặt, để đóng khung và trưng bày, và thỉnh thoảng cũng để cất giữ an toàn khỏi tầm nhìn cho đến khi cần đến. Anh không thể ngăn tôi hay can thiệp vào bất cứ cách nào. Khi tôi đi bộ lúc chạng vạng, đó là qua những công viên ở rìa thành phố, và tôi không bao giờ bước vào khu ngân hàng nữa, cũng không còn đi dọc theo những con kênh được viền bởi những hàng đèn trắng gắt hoàn hảo kia. Nhưng tôi vẫn nghĩ về những danh sách của anh. Theo nhiều cách, danh sách của tôi cũng thô sơ không kém.

Tôi có một hình ảnh về một cánh cổng đá nhợt nhạt khổng lồ mở ra trên những bức tường của một thủ đô lục địa bị lãng quên. Nó cao hơn rất nhiều so với những tòa nhà của thành phố lùi dần vào hậu cảnh, rồi hòa vào làn sương xám của khói bụi và mây mù tạo thành nền cho bức tranh. Cổng đang mở, và khói đen đặc cuộn ra. Có những đám đông người tí hon chuyển động ở mặt đất, ép sát vào nhau thành một khối, nhưng không rõ là họ đang cố trốn thoát, hay đang tiến vào thành phố và làn khói cùng bất cứ thứ gì đang chờ họ ở đó.

Tôi có một hình ảnh về một thứ vũ khí do một người đàn ông chế tạo, kẻ muốn ám sát nhà vua của mình. Đó là một thứ kỳ lạ, thô ráp và chắp vá; thực ra là nhiều vũ khí buộc lại với nhau, với khoảng hai chục nòng chĩa ra từ cửa sổ tầng hai của một căn hộ mà nạn nhân dự định có thể một ngày nào đó sẽ đi ngang qua. Nó có mùi xăng, mùi sắt và cao su cháy. Căn hộ của người đàn ông gầy (gầy đến mức chắc hẳn đang chết đói) đã tạo ra cỗ máy kỳ dị này cũng có mùi như vậy. Bạn có thể thấy từng chiếc đinh tán được gia công ghép lại, từng đường khâu riêng biệt của cỗ máy, khi nó nằm đó, sẵn sàng và kỳ lạ là bất động. Tôi hy vọng rằng ít nhất cũng có một chút khả năng cho sự hài hước, rằng người đàn ông đói khát ấy đã kể chuyện cười trong lúc làm việc, dù chỉ là nói với chính mình.

Tôi có một hình ảnh mà thực ra là cả một chuỗi hình ảnh, một tập hợp những bề mặt bê tông cứng cáp được cắt khắc bằng những dụng cụ chính xác. Những vết cắt và đường khắc tạo thành một phần của những bố cục tuyến tính lớn hơn, trong đó còn có những mảng đổ màu rực rỡ và những lớp sơn dày chồng chất. Mỗi hình đều mô tả một thực thể đơn lẻ, một cơ thể có gương mặt và biểu cảm, đôi khi có thêm một, hai cử chỉ. Chúng trừu tượng nhưng không quá mức. Rõ ràng vẫn là những cơ thể con người. Tôi thích di chuyển chúng trong không gian, hoán đổi chúng với nhau; để chúng bước vào những cuộc đối thoại, có thể là khiêu vũ, đủ mọi thứ ngôn ngữ. Đôi khi biểu cảm của chúng rất đơn giản và dễ đồng cảm, và đôi khi tôi có thể dành hàng ngày, hàng ngày để ghép gương mặt mình với gương mặt của chúng, ghép chuyển động của mình, cảm giác của tôi về thế giới và thành phố đang chứa chúng tôi.

Tôi còn có những hình ảnh khác nữa, giờ thì đã hàng trăm, và tôi không thể dễ dàng nói cho bạn biết chúng đã thay đổi tôi ra sao, nhưng tôi có thể nói không chút do dự rằng sự thay đổi ấy thật tuyệt vời, sâu sắc, rõ ràng và đầy ánh sáng. Điều đó là thật. Nhưng vẫn còn một hình ảnh mà tôi hiếm khi cho phép bước ra ánh sáng. Đó là một bức tranh nhỏ về một cái hồ trong rừng. Nhỏ, tròn, và được viền bởi những cây và hoa rủ xuống trông như đang khóc. Bức tranh chỉ vẽ bề mặt của hồ, phản chiếu như một tấm gương. Nó không thể cho thấy độ sâu khủng khiếp của nó, lớp bùn đen ở đáy, những sinh vật ăn thịt lẫn nhau ở dưới đó. Nó nằm trong kho lưu trữ và tôi nghĩ là sẽ mãi như vậy. Đôi khi tôi mơ rằng cái cơ thể vẫn còn ở dưới đó, sâu hàng chục mét bên dưới mặt nước, và khi lo âu tràn ngập tôi (điều này thỉnh thoảng chắc chắn sẽ xảy ra — bạn cũng biết), đôi khi tôi còn nhìn thấy nó cả khi đang tỉnh. Tôi thấy thân thể trẻ tuổi treo lơ lửng, thanh thản, với ánh nắng loang lổ chơi đùa trên ngực và bộ máy tinh vi của cổ họng, một cơ thể mà không có hành động nào của tôi có thể cứu được, và tôi có lúc cảm thấy hoảng loạn, có lúc lại hân hoan. Không phải nhờ hành động, hay can đảm cá nhân, hay sự nhạy cảm, hay lòng trắc ẩn, và chắc chắn không có khả năng tái sinh nào cả, bởi tổn thương đã xảy ra rồi.

bản tiếng việt từ commission cho f Lillies in the Headlights, tháng 1 2026, dựa trên một số sự kiện, nhân vật và bản nháp mùa hè 2025

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

Bài học từ Gaza: người chết chưa từng niêm phong thất bại của họ

Hôm nay là ngày 7 tháng 10, tính đến nay đã hai năm kể từ chiến dịch “Cơn lũ Al-Aqsa”. Tháng trước, một ủy ban điều tra quốc tế độc lập của Liên Hợp Quốc đã đưa ra kết luận rằng Israel đã và đang thực hiện hành vi diệt chủng. Riêng tại Gaza đã có hơn 60.000 người bị giết hại, và ở Bờ Tây sông Jordan còn có thêm hàng trăm người nữa. Tôi đặt tên cho bài phát biểu của mình là: “Những bài học từ Gaza: Người chết chưa từng đóng dấu cho thất bại của họ”. Tôi hy vọng rằng đến cuối bài phát biểu, tiêu đề này sẽ không còn quá bí ẩn.

Tôi muốn bắt đầu bằng một nghịch lý và một cái bẫy. Nghịch lý là thế này: nó liên quan đến việc “nói” khi tạo ra hình ảnh. Ta thường mong rằng chính hình ảnh có thể tự cất tiếng. Ngay cả khi ta gán cho hình ảnh ngôn ngữ, thì cũng là để chuyển hóa thứ ngôn ngữ ấy, và làm biến đổi những hình ảnh mà nó chạm tới. Trạng thái lý tưởng của điện ảnh phải là: không có lời giải thích về ý đồ sáng tác, không có những bài diễn thuyết mang tính biện minh. Ở mức cực đoan, tôi muốn nói rằng: ý đồ chính là cơ chế. Thứ ta nên bàn không phải là vì sao làm, mà là làm như thế nào. Không phải hình thức, không phải nội dung, không phải bí mật, mà là giai thoại. Những giai thoại sáng tác của bạn là gì? Bạn đã cố gắng nhìn thấy những điều mà người khác không nhìn thấy như thế nào?

Tuy nhiên, Gaza đặt chúng ta vào một tình thế khá u ám: Gaza cần được lắng nghe, cần được kết nối với người khác, cần được tổ chức để gặp gỡ. Nhưng chúng ta lại rơi vào một thế lưỡng nan:

Một mặt, chúng ta nên giữ im lặng. Không đáp lại lời kêu gọi của một cuộc chiến diệt chủng kiểu “tổng động viên”, tức là không tham gia vào những cơ chế truyền thông bị bóp méo (mạng xã hội, v.v.), bởi vì rốt cuộc những cơ chế ấy luôn tiếp tay và hoàn thiện “cỗ máy chết chóc”: một chuỗi kéo dài từ Zuckerberg, Musk, Altman cho đến người lính đánh thuê cuối cùng của lực lượng chiếm đóng, kẻ điều khiển chiếc drone hay thiết bị vũ khí. Hãy cắt đứt dòng bình luận của thế giới. Đừng để tiếng kêu của người Palestine lại bị nhấn chìm. Đừng phủ lấp tiếng kêu ấy. Thậm chí đừng cố gắng diễn đạt nó, chỉ cần lắng nghe chính nó: đó là dấu hiệu sống động cho thấy nó vẫn còn giữ được một phẩm giá nào đó trong thế giới này, mà dĩ nhiên, thế giới ấy không phải là tất cả. Trong trường hợp cực đoan, ta có thể thử kéo dài nó. Tôi nghĩ đến, chẳng hạn, bộ phim mới nhất của Ghassan Salhab: No Title, không tiêu đề, không địa chỉ. Không thoại, không câu chuyện, không cả chữ chạy cuối phim: chỉ có tiếng tru của thú vật trong đêm, chỉ có sự hoang tàn của phong cảnh đổ nát ở miền Nam Liban - một sự hoang tàn buộc con người phải im lặng và, theo một nghĩa nào đó, chính bản thân nó đã đang cất lời. Đây không phải là vì không có gì để nói, mà là vì có quá nhiều điều để nói.

Mặt khác, trước Gaza, chúng ta không thể im lặng: về mặt đạo đức, chúng ta không thể im lặng, bởi vì ta buộc phải nói ra tất cả những gì mình đã chứng kiến để gánh lấy trách nhiệm của chính mình, phải gọi tên thảm họa này thì mới có thể thử đi xuyên qua nó. Về mặt vật lý, chúng ta cũng không thể im lặng: nó trào ra từ bên trong chúng ta. Như một cơn lũ. Chúng ta bị nhấn chìm bởi những thù hận và yêu thương mà chính mình cũng chưa từng nhận ra. Nhưng tất cả những cảm xúc ấy đều được truyền qua những hình ảnh trên chiếc điện thoại thông minh bé bằng bàn tay của chúng ta: chúng ta bỏ cả một cuộc diệt chủng vào túi áo, chúng ta sở hữu một cuộc diệt chủng riêng tư, lưu động, được thuật toán sắp đặt.

\Không chỉ ngôn ngữ bị ép rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan — vừa buộc phải lên tiếng lại vừa không thể diễn đạt — mà cái nhìn cũng vậy. Tồn tại cả một hệ thống ngữ pháp tri giác bị áp đặt, bị làm cho nghèo nàn. Một toàn bộ hậu cần tri giác mang tính thực dân. Đó chính là cái bẫy: chúng ta không thể nói, mà cũng không thể im lặng; chúng ta không nhìn thấy sự thật, nhưng lại bị phơi bày cho thấy mọi thứ.

Có ai đó đang phơi bày cho chúng ta mọi thứ. Élis từng nói một ngày nào đó: tất cả những điều này phải được nhìn thấy. Nó không bị che giấu, nó phải được nhìn thấy, đó là một phần của chính thiết bị này, giống như nghi lễ hiến tế con người: đây chính là tình trạng mà “tính phi-hiện thực – hiện thực” của cuộc diệt chủng ấy đang rơi vào. Chủ nghĩa phát xít Do Thái phục quốc đang cạnh tranh với Netflix, cũng như Goebbels từng ghen tị với Hollywood. Mọi thứ đều phải được trình diễn, để rốt cuộc chúng ta chẳng nhìn thấy gì cả. Chúng ta vừa bị tước đoạt khả năng lên tiếng, vừa bị tước đoạt khả năng im lặng; vừa bị tước đoạt cái nhìn của mình, lại vừa bị tước đoạt cả sự mù lòa của mình. Chúng ta phải đối phó với tất cả những điều này như thế nào? Làm sao thoát khỏi cái bẫy đang trói chặt chúng ta, bóp nghẹt chúng ta giữa hai điều bất khả?

Vậy thì, chính sự căng thẳng ấy có lẽ lại mang tính sáng tạo. Chúng ta dấn thân vào nghệ thuật, rốt cuộc, là bởi vì chúng ta bị mắc kẹt trong tình thế ngột ngạt này. Sự sáng tạo đích thực nảy sinh chính xác ở giữa hai điều bất khả ấy: bằng cách tìm kiếm những đường thoát hay những mặt phẳng đào thoát. Sáng tạo, tức là trốn chạy. Trốn khỏi lãnh địa bị thực dân hóa của ngôn ngữ và tri giác, nhìn sang một nơi khác, nhìn theo một cách khác, hít thở một bầu không khí khác.

Giống như Rimbaud: ông trở thành một kẻ thông linh nhờ “một sự rối loạn lâu dài, khổng lồ và có lý tính của mọi giác quan”, trong đó ông đã tiêu hao “tất cả các thứ độc dược, mọi hình thức của tình yêu, đau khổ và điên loạn”, để cuối cùng chạm tới cái chưa biết. Vì thế, khi chúng ta bị cuốn vào chuyển động ấy, khi ta tưởng như đã tìm được một lối ra, thì ta không bao giờ biết mình sẽ đến đâu. Trong các buổi thảo luận, chúng tôi đã khám phá ba con đường khác nhau:

Con đường thứ nhất: chuyển hướng và giễu nhại, như một sự chế giễu đối với thế giới phi lý này. Canetti từng nói: “Chúng ta vẫn chưa đủ buồn, nên thế giới chưa thể trở nên tốt đẹp hơn.” Câu đó đúng. Nhưng chuyển hướng và giễu nhại có thể trao cho nỗi buồn một sức mạnh phê phán: không quá nghiêm trọng hóa bản thân, không chỉ đơn thuần để mua vui. Đó có thể là một cách làm cho quyền lực trở nên vô hiệu, ngăn nó đạt được mục tiêu của mình nơi chúng ta (tức là khiến chúng ta phục tùng và thích nghi với những hình thức chết chóc của nó). Và đây cũng chính là một bài học của người Palestine.

Một người bạn từng nói với tôi: người ta thường nhắc đến “hài hước Do Thái”. Nhưng ngày nay, với tư cách là một sức mạnh phê phán, hài hước thuộc về người Palestine. Từ bên ngoài nhìn vào, người ta gán cho họ nhiệm vụ và sứ mệnh phải (thể hiện thứ hài hước ấy). Nhưng nếu bạn có dịp đến Palestine, bạn sẽ thấy rất rõ: khả năng tự giễu về hoàn cảnh bi thảm của chính mình của họ là điều thú vị nhất trên đời. Họ luôn ở một nơi khác. Không thể bị nắm bắt. Như vậy là rất tốt. Một bài học từ Palestine.

“Trước kẻ đang nắm quyền, phải giả điên giả dại, phải tỏ ra ngu ngốc hơn họ. Đó là cách duy nhất khiến họ cảm thấy buồn nôn. Phẩm giá chỉ tồn tại giữa những người ngang hàng với nhau […]. Giữ phẩm giá trước mặt cảnh sát hay bất kỳ kẻ có quyền lực nào khác cũng giống như giữ phẩm giá trước một con chó dại. Điều đó vô nghĩa. Trước một con chó dại, thái độ khôn ngoan duy nhất là chạy trốn.”

Vì thế, hãy chống lại bằng cách chạy trốnlàm cho quyền lực mất hiệu lực. Có lẽ còn nên bổ sung thêm lời của tù nhân người Mỹ gốc Phi G. Jackson: Tôi tồn tại, nhưng khi tôi tồn tại, tôi cũng đang đi tìm vũ khí.

Con đường thử nghiệm thứ hai: truyền đơn. Đây là thực hành của nhóm Vidéo-Tract / Trace for Palestine (https://www.instagram.com/videotraceforplstn/). Trước hết, đó là một không gian của kết nối và gặp gỡ. Phải bước ra khỏi sự cô lập. Mọi thứ đều hình thành một cách tự phát, không có luật lệ. Và chính những mối liên kết được dệt nên ấy đã tự nó chứng minh rằng chúng ta có thể thực hành những hình thức sống khác. Mục tiêu ở đây là tìm kiếm một dạng hiệu quả hành động: thông qua truyền đơn, tiến hành phản tuyên truyền, thậm chí phản thần học, để đánh sập và lật ngược các khuôn mẫu định sẵn. Mục đích của một tờ truyền đơn là làm rung chuyển ý thức, kích động nó phản kháng.

Trong hoàn cảnh mà chúng ta đang đối diện, kiểu thực hành này là cần thiết. Từ góc độ nghệ thuật, nó không phải là điều thú vị nhất (nếu như ở một nơi không chỉ tồn tại như một “tình thế”, quan điểm nghệ thuật còn có thể tồn tại), nhưng việc bẻ hướng nghệ thuật ra khỏi mục đích cao quý mang tính tư sản vốn được gán cho nó là một điều rất tốt. Đây không phải là thẩm mỹ hóa sự dấn thân chính trị, phủ lên nó một lớp vecni nghệ thuật, mà là hạ cấp nghệ thuật, chính trị hóa nghệ thuật.

Con đường thứ ba mà tôi cố gắng đi theo: phê phán lịch sử, thời gian lịch sử và sự phân nhánh của các hình ảnh lịch sử. Đây là điểm khó nhất, nhưng cũng thú vị nhất. Làm thế nào để các văn bản, hình ảnh, thời đại, địa điểm, thậm chí là chính các dạng tồn tại khác nhau, có thể được dẫn dắt vào việc vừa va chạm vừa cứu trợ lẫn nhau? Làm thế nào để chúng (như dòng điện) thông qua một sự kết nối mang tính cách mạng, mà được cắm vào hiện tại? Cụ thể hơn, những kết nối ấy làm sao có thể sản sinh ra một hình ảnh khác về lịch sử loài người và các cuộc đấu tranh của nó, một hình ảnh mà bản thân nó cũng bắt đầu đấu tranh và kháng cự ngay trong lòng những người đang sống?

Để sản xuất ra kiểu hình ảnh về những kết nối cách mạng này, khó khăn đầu tiên nằm ở: thiết bị và hậu cần. Dù muốn hay không, chúng ta đều đã bị cuốn vào toàn bộ một hệ thống hậu cần của tri giác. Chúng ta là tù nhân của nó. Nó áp đặt lên chúng ta thông qua các hình thức giao tiếp mang tính bá quyền, những hình thức này cùng nhau cấu thành một mắt xích trong chuỗi sản xuất dài của cỗ máy chết chóc (hay cỗ máy tư bản công nghệ tân thực dân). Chúng ta gần như bị ép phải tham gia vào đó, và quả thật chúng ta đang tham gia.

Primo Levi, trong cuốn Những kẻ chìm và những người được cứu (I sommersi e i salvati, 1986), rất lâu sau khi sống sót khỏi trại tập trung, đã nói một câu rợn người như sau:
“Chúng ta đã lướt qua quyền lực […] và quên mất rằng tất cả chúng ta đều đang ở trong trại biệt lập, xung quanh là những bức tường, bên kia tường là chúa tể của cái chết, và không xa, những đoàn tàu đang chờ sẵn.”

Ông nói những lời ấy nhiều năm sau khi rời khỏi trại tập trung. Còn ngày nay, tình hình đã xấu hơn: các chuyến tàu không còn cần phải chờ nữa, chúng ta tưởng mình đang lái nó, nhưng thực ra lại đang bước lên nó. Chúng ta bị tích hợp vào chuỗi này: bị tuyển mộ, bị huy động. Đó là một thứ thần học kỹ thuật lấy “sự thân thể hóa / sự thu nạp” (incorporation) làm khẩu hiệu trung tâm. Chúng ta bị sáp nhập vào trong thiết bị. Và các hình ảnh thì phun trào qua cửa sổ đoàn tàu, định hình cách chúng ta cảm nhận và suy nghĩ. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đã bắt đầu tiêu thụ nạn diệt chủng.

Điều này khác với hoàn cảnh của Farocki, chẳng hạn như khi ông nói trong Ngọn lửa không bao giờ tắt: “Khán giả không muốn biết hậu quả của bom napalm; điều cần bị chất vấn là trách nhiệm của họ trong những lý do mà người ta dùng để biện minh cho việc sử dụng napalm.” Còn hôm nay, mọi người đều biết, mọi người đều thấy, tất cả đều phải được phơi bày, và mọi người đều đang tiêu thụ sự hủy diệt. Chúng ta tiêu thụ cái chết với một sức hút bệnh hoạn, cảm giác ghê tởm của chúng ta vẫn chưa đủ mạnh. Một phần đời sống của chúng ta, cùng với năng lực cảm nhận, nhìn thấy và suy nghĩ của chúng ta, bị chủ nghĩa tư bản chiếm đoạt dữ liệu, chú ý và “thời gian não bộ khả dụng” nuốt chửng rồi nhả ra; nó chỉ tồn tại bằng cái chết của chúng ta.

Trong những điều kiện như vậy, ta có thể hiểu được câu đề tặng ở cuối bài tiểu luận Những linh hồn gào thét quay tại Việt Nam:
“Không còn bất kỳ hình ảnh nào của nạn diệt chủng có thể xuyên thủng nữa.”

Còn điều gì có thể xuyên thủng được nữa?

Đối với tôi, thứ đầu tiên có thể xuyên thủng chính là âm thanh: là tiếng kêu. Là tiếng gào thét. Là những tiếng kêu của các hồn ma không thể yên nghỉ và những linh hồn đang rít lên. Đó là một trải nghiệm thường trực: trong cuộc diệt chủng “đang diễn ra” này, bất cứ điều gì tôi đọc được cũng khiến tôi nghĩ đến Palestine. Tất cả. Tôi đọc, và tôi nghe thấy Palestine.

Tôi ở Việt Nam, trong khu rừng ẩm ướt, đọc Bảo Ninh kể về nỗi kinh hoàng của chiến tranh Việt–Mỹ, mà vẫn nghe thấy Palestine. Tôi xem Far from Vietnam (Rời xa Việt Nam), bộ phim tiểu luận tập thể của Marker, Godard và những người khác, và tôi nhìn thấy Palestine.

Tôi đọc Fanon nói về thái độ của Việt Minh trước cái chết, và tôi thấy ở đó thái độ của phong trào kháng chiến Palestine cùng niềm tin không thể lay chuyển của họ vào thực tại của sự sống. Tôi đọc Walter Benjamin, Primo Levi, Jean Améry, Elias Canetti: họ đã rèn luyện đôi tai của tôi, để tôi có thể nghe thấy Palestine rõ hơn. Ngay cả khi tôi đọc bất cứ thứ gì khác hoàn toàn không liên quan, tôi vẫn nghe thấy Palestine. Tôi tin rằng rất nhiều người trong chúng ta cũng không thể ngừng nghe thấy những tiếng kêu ấy.

                                                    Notre Musique, J.-L. G

Ở đây, chúng ta cũng phải tạo ra cho nó một hình ảnh: không phải thứ hình ảnh của sự lắng nghe đầy thương hại, tự cho mình là đang lắng nghe tiếng ồn ào của thế giới. Không. Chúng ta phải tạo ra một hình ảnh đúng như nó vốn là, một hình ảnh có hiệu lực: một hình ảnh khiến trật tự thế giới — từ Ý đến Maroc, qua Madagascar, Pháp và Tunisia — phải khiếp sợ. Trái với bề ngoài, không phải Israel đang xâm lược Palestine, mà là Gaza và Palestine đang xâm lược thế giới, đang lan truyền một ý thức Palestine vào mọi phong trào còn đang tìm kiếm mục tiêu, khơi dậy những cuộc đấu tranh đang phát hiện ra tiềm năng “trở thành Palestine” của chính mình — một kiểu “trở thành khởi nghĩa” trong các đoàn biểu tình công đoàn! Điều này quả thực khó mà lường trước.

Tôi thậm chí còn muốn nói rằng chính sự lây lan này, những vệt máu không ngừng lan rộng, sức mạnh của sự vọng âm này, khả năng mà cuộc đấu tranh Palestine có được trong việc kích hoạt lại ký ức quá khứ của các cuộc đấu tranh khác, mới là bí mật lớn của thế giới hôm nay: chúng ta phải truyền miệng, phải trao tay. Đó chính là bí mật vĩ đại của Palestine mà chúng ta - những người yêu mến dân tộc này - tìm kiếm, muốn gìn giữ như một kho báu và tiếp tục kéo dài: làm thế nào để đào hầm? Những đường hầm ấy rốt cuộc là gì? Hai loại hình ảnh nào đang đối đầu nhau? Một bên là một nhà nước, nhân danh an ninh, nhân tạo đóng kín bầu trời thế giới (Vòm Sắt); bên kia là một dân tộc, để có thể thở, đào sâu xuống lòng đất, và nhằm giải phóng thế giới bằng cách trốn thoát khỏi thế giới.

Tiếng kêu của Palestine khiến tôi nhớ đến tiếng kêu của Rimbaud: “Vâng, tôi nhắm mắt trước ánh sáng của các người. Tôi là một con thú.” Rồi sao nữa? Rimbaud cũng đã đào hầm. Những đường hầm của chúng ta ở đâu? Dĩ nhiên, đó không phải là cùng một loại đường hầm. Bởi chúng ta không thể trơ trẽn mà đồng nhất mình với người Palestine. Nhưng đúng vậy, những đường hầm ấy phải tồn tại như những không gian sinh tồn mà chúng ta cần học cách cư ngụ. Sống sót (sur-vivre), đồng thời cũng là trải nghiệm sự quá độ tràn ra khỏi chính sự sống.

Đây lại là một bài học từ Palestine, một bài học của kẻ sống sót, kẻ lấy chính kinh nghiệm về cái chết của mình làm chứng: dưới đống đổ nát, người ta nhìn thấy nhiều thứ hơn, theo một cách khác. Các bạn có nghe thấy không? Các bạn có nhìn thấy không?

Tóm lại, toàn bộ tình thế thảm họa này có thể trở thành một chất liệu khả thể mới, mang tính cách mạng. Kể từ năm 1968, thế giới không còn sở hữu một ý niệm nào về việc giải phóng triệt để thế giới nữa. Người Palestine không có một ý niệm như vậy. Họ chính là hình ảnh và hiện thực của ý niệm ấy. Họ đã từ bỏ mọi hy vọng được cứu rỗi. Họ thoát khỏi đạo đức của nhà nước, logic của cỗ máy, luật chiến tranh hay luật pháp quốc tế.

“Những mảnh vỡ bao quanh tôi, và vì thế tôi trở nên rộng lớn hơn,” nhà thơ của họ cất tiếng,
“tôi ở đây cao hơn các thành bang của chúng ta.
Tôi là những cây cối cô độc, tôi là những mảnh vỡ… và cũng là món quà.”

Đó chính là hình ảnh sống động của Palestine, và là hình thức liên kết mới mà chúng ta được mời gọi tham dự.

Đối với chúng ta, câu hỏi là: làm thế nào để cho phép mình bị xâm nhập, và tổ chức sự liên kết ấy? Nói cách khác, những đường thoát này, những cơ hội cũng mang tính kết nối cách mạng này: làm sao để tổ chức những cuộc gặp gỡ đúng đắn? Làm sao để cấu thành một hình ảnh của tiếng kêu, một hình ảnh có thể kéo dài tiếng kêu ấy?

Tôi không có phương pháp, nhưng tôi có thể nói về cách mà, từ góc nhìn phê phán lịch sử, tôi đã thực sự thương lượng với tiếng kêu này: ở những nơi nhất định, trong những cử chỉ nhất định, trong những văn bản chính trị và những cuộc đấu tranh của thiểu số, các hồn ma đang lên tiếng, trò chuyện với nhau, nói với chúng ta, các linh hồn vẫn đang gào thét: những người chết chưa hề niêm phong thất bại của họ.

Trước hết, cần phải phân biệt hai loại cái chết: những kẻ chết sống đang thống trị chúng ta, và những người chết vẫn còn sống, không thể bị thống trị. Hai bên ấy đang đấu tranh với nhau. Hãy chọn phe của bạn đi, đồng chí.

Khi tôi nói đến “hồn ma”, tôi có một định nghĩa rất đơn giản: hồn ma là những người chết không thể bị thống trị. Hồn ma là một cái chết không thể an vị, bởi vì nó không thể an nghỉ, giống như một tiếng kêu tồn tại dai dẳng trong sự ngạt thở của lịch sử. Các hồn ma kiên trì kêu gọi, họ trò chuyện với nhau, chúng ta có thể nghe thấy họ, họ đang nói với chúng ta. Họ cho phép chúng ta lắng nghe và nhìn thấy những điều mà ta thường đã không còn biết cách nhìn và nghe nữa.

Đây không phải là thần bí chủ nghĩa (tôi không phản đối việc có những mối liên hệ thần bí với hồn ma, chỉ là đó không phải điều tôi quan tâm). Điều tôi quan tâm là tính lịch sử của hồn ma, hay có thể nói, là hiệu lực vật chất của chúng. Vấn đề không nằm ở việc tin vào hồn ma, mà là trải nghiệm họ như những chủ thể của một lịch sử bị lãng quên, và như những kẻ sáng tạo ra một thời gian đã mất rồi được tìm lại. Khi người chết trở về quấy nhiễu chúng ta dưới hình thức hồn ma, thường là để đòi hỏi công lý.

Trường hợp Việt Nam sau chiến tranh là một ví dụ rất rõ: người ta tổ chức những nghi thức nhập hồn, trong đó linh hồn của những người lính chết nơi đất khách, không có mồ mả, sẽ nhập vào người sống, dẫn dắt họ đi tìm hài cốt của mình, để có thể được chôn cất một cách đàng hoàng. Hồn ma chính là những người chết đang gào thét đòi hỏi công lý và phẩm giá.

Đôi khi họ xâm nhập vào hiện tại, và chúng ta không thể hiểu vì sao. Chính bởi sự quấy nhiễu ấy mà chúng ta làm nghệ thuật, để làm sáng tỏ điều đó, hoặc để điều hướng trong bóng tối này. Chúng ta phải cố gắng lắng nghe họ, lắng nghe những điều chưa được nói ra. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể nhìn thấy và cảm nhận họ tốt hơn — những tồn tại đang tham dự vào các cuộc đấu tranh chủng tộc và giai cấp. Họ có điều gì muốn nói với chúng ta, muốn cho chúng ta thấy? Tôi tin, và tôi nhắc lại: họ chưa từng niêm phong thất bại của mình. Họ muốn kể cho chúng ta về thất bại ấy, và thất bại đó, về bản chất, mang trong nó cả một đại dương đầy khả thể.

Tôi xin đưa ra một ví dụ mà tôi phát hiện vài ngày trước và thấy vô cùng đẹp: cát và biển ở Tunisia. Ismaël đặt câu hỏi: “Cát có chết không?” Theo cách tôi hiểu, anh ấy ít nhất đã phác ra ba đường nét:

  1. Một đường lưu vong: năm 1982, chỉ vài ngày trước vụ thảm sát Sabra và Shatila, những người Palestine lưu vong đã từ Beirut đến Tunisia;

  2. Một đường cái chết: năm 1988, chiến binh Palestine Abu Jihad bị một đội biệt kích theo chủ nghĩa Do Thái phục quốc ám sát ngay trên vùng cát Tunisia này;

  3. Một đường phục sinh: trên chính vùng cát Tunisia ấy, những con người đến từ khoảng năm mươi quốc gia khác nhau đã tụ tập quanh một đoàn tàu/đoàn thuyền: đó chính là một sự phục sinh. Đoàn thuyền khởi hành từ Tunisia này, theo một nghĩa rất mạnh, là một hành động mang tính lịch sử: một cách để giành lại quyền sở hữu đối với sự hư cấu của quá khứ (và dĩ nhiên, cả đối với đại dương).

Ở đây, tôi tin rằng chúng ta có được một chòm sao lịch sử với tọa độ rất đơn giản: 1982, 1988, 2025, cát, Tunisia. Cát của Tunisia không còn chỉ đơn thuần là cát nữa, nó là một sự kiện. Nói cách khác, nó là một điểm giao hội của các thời gian lịch sử. Tương tự như vậy: Địa Trung Hải, thông qua những đoàn thuyền này, đã trở thành một đại dương có những lối rẽ phân nhánh, chống lại chính sự quân sự hóa dạng lưới của nó.

Có điều gì đã thay đổi trong hình ảnh? Trong sự kiện này, cát là mặt đối nghịch của đồng hồ cát — thời gian của đồng hồ cát trong một không gian khép kín thì tất yếu chảy từ trên xuống dưới: tức là thứ thời gian được đo lường. Còn ở đây thì ngược lại: cát là khả thể vô hạn, như xi măng của tình yêu cách mạng và sự đoàn kết của nhân dân. Không còn là thời gian bị đo đếm, mà là một thứ thời gian vẫn còn có thể thực hiện được, có thể được sống qua.

Và chúng ta thấy rất rõ: cát và biển là những “phong cách” (styles), sự tồn tại của chúng được quyết định bởi cảm xúc.

Chúng ta phải giành lại lịch sử và các hình ảnh của nó theo cách này: như có người từng nói, là đọc lịch sử “ngược chiều lông mọc”, tức là đi ngược lại cách lịch sử chính thống thường được kể. Ta tạo ra những “chòm sao” lịch sử, nối các đường rời rạc lại với nhau. Và phải nhớ rằng: lịch sử thực chất không phải là một dòng tiến triển liên tục, mà là những khả năng đã từng tồn tại nhưng bị chôn vùi, bị lấp mất, như những đường hầm bị cát vùi.

Ismaël hỏi: “Cát có chết không?”
Anh trả lời: có, cát có thể “chết vì xấu hổ”, tức là bị làm nhục, bị giẫm đạp (ở đây ám chỉ việc đội biệt kích Israel từng hành động trên đất Tunisia). Nhưng cát cũng có thể “sống lại” và “trả thù” những kẻ đã giết nó — theo nghĩa biểu tượng: chính trên vùng cát ấy, ngày hôm nay lại xuất phát một đoàn thuyền, trên đó có người Palestine (trong đó có cả người tị nạn) và người Tunisia, tức là vùng đất từng bị bạo lực xâm phạm nay lại trở thành điểm khởi đầu của một hành động đoàn kết.

Đây chính là điều tôi muốn nói: những người đã chết chưa bao giờ chấp nhận thất bại của mình là kết thúc. Họ “trở lại”, “phản công”, “phục sinh” — không phải theo nghĩa siêu nhiên, mà theo nghĩa lịch sử và chính trị: ký ức, đấu tranh và ý nghĩa của họ phá vỡ trật tự thời gian giả tạo mà lịch sử chính thống dựng lên.

Điều này không phải thần bí, mà rất cụ thể. Nó hơi kỳ lạ, nhưng không hề hư cấu: tinh thần của họ không biến mất, không đi đâu khác, mà tiếp tục tác động trực tiếp lên hiện tại của chúng ta. Đó là cách hiện tại cứu lại những khả năng mà lịch sử từng xóa bỏ. Và nhà triết học Palestine đương đại Omar Abdeljawad đã diễn đạt điều này hay hơn bất kỳ ai.

“Sự kháng cự của Palestine, đặc biệt trong những hình thức nguyên sơ và không thể giản lược nhất của nó, từ chối logic thời gian tuyến tính [này]. Nó không tìm kiếm sự cho phép của một ‘tương lai’ như thứ mà Hiệp định Oslo từng hứa hẹn […]. Nó cắt ngang. Nó làm cho thời gian thuộc địa vỡ vụn, tan rã […]. Kháng cự không chỉ là phản ứng, mà còn mang tính bản thể luận. Nó dàn dựng một cuộc nổi dậy chống lại chính thời gian, tạo ra thứ mà ta có thể gọi là ‘phản-thời-gian tính’: lịch sử bị gấp lại, người chết đi cùng người sống. Đừng hình dung người tử vì đạo như một nhân vật bi kịch, mà hãy nghĩ họ như kẻ làm sụp đổ ranh giới giữa ‘quá khứ bị hiến tế’ và ‘tương lai được cứu chuộc’. Hãy nghĩ đến người tị nạn ‘trở về nhưng không quay lại’. Đây không phải là những hành vi mang tính ẩn dụ, mà là những cuộc nổi loạn trực tiếp chống lại thời gian.”

Khi ‘tự sự’ hướng đến truyền thống của những kẻ bị chinh phục, chức năng của nó khiến tôi quan tâm: nó làm cho những khả thể mà các tự sự ấy mang theo trở nên không thể bị lãng quên. Lịch sử mang tính học thuật hoá, lịch sử chính thống, luôn là lịch sử của kẻ chiến thắng; chức năng của kiểu lịch sử này là xoá bỏ mọi khả thể thay thế mà những ‘kẻ bị chinh phục’ từng mang trong mình.

Đối lập với thứ lịch sử bị trói buộc, hợp lý hoá, được viết ra (ở đây có liên quan đến vấn đề dựng phim/biên tập), điện ảnh phải cung cấp một góc nhìn khác: một lịch sử không bị trói trong khuôn khổ học thuật, nơi người chết được nối kết với người sống. Nghệ thuật chỉ nên theo đuổi điều này: hiện thực hoá những gì mà lịch sử chính thống cố bóp nghẹt, làm cho những điều mà chúng ta vẫn luôn có khả năng làm trở nên không thể bị lãng quên: kháng cự lại sự đê tiện của thế giới.

Đây là một lịch sử của những bóng ma: lịch sử của những gì chưa từng xảy ra nhưng lẽ ra có thể xảy ra — một lịch sử nhằm cứu vớt những khả thể mà lịch sử từng dự phóng rồi lại tự phủ định.

Làm thế nào để tạo ra hình ảnh cho những khả thể ấy? Làm thế nào để kể một câu chuyện mà thực ra là không còn kể chuyện theo nghĩa thông thường? Với tôi, chính đây là điều vẫn còn sống động trong nghiên cứu điện ảnh. Điều có thể thổi sinh khí cho nó: trao cho nó một linh hồn.

Chẳng hạn, ở đây, làm sao tạo ra một hình ảnh để biểu đạt cuộc đấu tranh đang cuộn lên bên dưới lớp cát Tunisia này? Cát không chỉ đơn thuần là cát. Nó được mang tải và được định hình bởi những lịch sử phân nhánh ấy. Nó là chiến trường thực sự của một cuộc đối đầu hoàn toàn có thật. Đây không phải là một ẩn dụ.

Mối liên kết giữa 1982, 1988 và 2025 cho thấy rằng những kết nối mang tính cách mạng không chỉ là kết nối trong hiện tại, giữa những người cùng thời. Chúng còn là những kết nối giữa quá khứ và hiện tại, những kết nối mà trong đó hiện tại nhận ra chính mình. Trong những trường hợp này, thời gian bị phân nhánh: nó không còn là một đường thẳng, mà là một ngã tư. Hay đúng hơn: một vòng xoay giao lộ, như một cách tri ân phong trào Áo Vàng, những người — vào thời khắc đẹp nhất của họ — đã từng thoáng thấy nơi chính mình khả năng ‘trở thành Palestine’.

Tôi xin trích dẫn lại hai hình tượng mà triết gia Palestine Omar Abdeljawad đưa ra: liệt sĩngười tị nạn, như hai tác nhân của sự phân nhánh lịch sử, hai tác nhân của những hình thức thời gian thay thế. Bởi vì họ có thể chỉ ra một mối quan hệ sống động nào đó với Palestine và với sự kháng cự của nó - đặc biệt khi chúng ta làm phim.

Với Omar Abdeljawad, liệt sĩ không mang tính hiến tế: không phải như thể phải chết để đổi lấy một lời hứa cho tương lai. Ngược lại, đối với hiện tại của chúng ta, anh ta đã chính là lời hứa đang được hiện thực hóa. Anh ta làm cho sự phân biệt giữa ‘quá khứ bị hy sinh’ và ‘tương lai được hứa hẹn’ sụp đổ. Liệt sĩ ‘sống’, như một dạng lưu trữ mang theo giấc mơ hiện tại về một tương lai tự do. Trong anh ta, các thời gian đan xen vào nhau.

Và anh mang đến cho chúng ta thứ mà ta phải gọi là một đòi hỏi. Sự đòi hỏi của liệt sĩ hoàn toàn trái ngược với tiếng hô phát-xít ‘Vạn tuế cái chết’ (một cách hiểu sai rất phổ biến dưới ảnh hưởng của thứ Đông phương luận bệnh hoạn). ‘Vạn tuế cái chết’ là tiếng hô của chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Còn tiếng hô của liệt sĩ Palestine gần hơn với: ‘Có thể tôi đã chết, nhưng tôi đã sống vì giải phóng; dù không ai nhớ đến tôi, tôi vẫn mang trong mình tất cả những giấc mơ giải phóng không thể bị xoá bỏ.’

Những giấc mơ ấy vẫn còn sống. Chúng chặn lại cỗ máy thời gian đang nghiền nát mọi thứ một cách âm thầm. Chúng tạo ra những điểm đứt, chúng gọi chúng ta. Đây không phải là tưởng niệm. Đây là một thứ ký ức đang cháy, buộc người sống phải làm rung chuyển chính hiện tại của mình. Hình ảnh liệt sĩ không thể bị giản lược thành câu chuyện chiến lược hay hiệu quả quân sự. Nhìn từ bề mặt, cái chết của anh có thể hoàn toàn vô ích. Nhưng đời sống của anh, hành động của anh, cái chết của anh mang một ý nghĩa vượt khỏi mọi phép đo: một ý nghĩa nội tại của sự sống. Một thứ tiếp tục đập nhịp và tồn tại bên ngoài mọi cơ chế kiểm soát mà thế giới áp đặt. Một thứ đặt lại câu hỏi căn bản: liệu thế giới này có thực sự bao trùm hết mọi thế giới có thể hay không.

Chính vì thế, nó đòi hỏi không được bị lãng quên nhân danh sự sống: bởi vì chúng ta yêu sự sống, nên chúng ta muốn thế giới này phải bị đảo lộn. Cái chết của anh chưa khép lại. Liệt sĩ là một hồ sơ còn đang âm ỉ cháy, như tàn than của một ngọn lửa không bao giờ tắt. Năng lượng của tàn than rất đặc biệt: nó ẩn mình, giữ lại tiềm lực; để không tắt hẳn, nó cần được thở.

Người tị nạn là một hình ảnh khác của sự từ chối: anh từ chối chấp nhận logic lưu đày và tước đoạt của chủ nghĩa thực dân. Nhưng sự trở về của anh không chỉ là một chuyển động trong không gian, mà còn là một hành vi trong thời gian - như một cuộc nổi dậy chống lại trật tự thời gian vốn tìm cách cắt đứt anh khỏi chính lịch sử của mình, bằng sự quên lãng hoặc bằng những nghi thức tưởng niệm. Đó chính là “Cuộc Đại Tuần Hành Trở Về” để bước ra khỏi vùng đất bị phong tỏa: từ 1948 đến 2018.

Đó là Rima Hassan, hậu duệ của một gia đình tị nạn Palestine. Khi cô đứng trên con tàu Madeleine, tôi bắt gặp một hình ảnh không thể quên: cô đứng ở mũi tàu, mặc chiếc áo thun chỉ in một dòng: “1948 – Trở về là quyền và ý chí của chúng ta.” Rima Hassan, người trung gian giữa các thế hệ, người lặng lẽ tạo nên sự cộng hưởng giữa những thế hệ đã qua và thế hệ chúng ta hôm nay. Phải có một đôi tai thực sự biết nghe nhạc mới cảm được hết chiều sâu nghệ thuật của khoảnh khắc ấy.

Vì thế, liệt sĩ và người tị nạn: hai hình ảnh của sự từ chối, nhưng là sự từ chối mang tính sinh thành. Hai tác nhân của một thứ phản-thời gian, nhưng để mở ra một thời gian khác. Đáp lại lời kêu gọi của liệt sĩ hay người tị nạn, là chấp nhận trong hiện tại trách nhiệm tiếp nối những giấc mơ của họ. Điều này hoàn toàn đối lập với lòng thương hại hay việc tưởng niệm, bởi những điều đó chẳng khác gì giết họ thêm một lần nữa. “Không được quên” ở đây không phải là nhớ về, mà là để họ sống lại: để người chết được sống hai lần, để người chết và người sống cùng tồn tại trong một thời gian chung.

Đây chính là chiều kích sâu nhất, mang tính siêu hình của sự kháng cự Palestine: cuộc đấu tranh không chỉ vì hiện tại hay vì lãnh thổ, mà vì khả thể của tồn tại và của sự trở thành — vì cảm giác mình đang tham dự vào một lịch sử nằm ngoài thời gian thực dân, một lịch sử chưa bị đóng khung, chưa bị làm cho vô hại bởi bất kỳ hệ thống tri thức nào.

Tóm lại, đó là điều tôi muốn nói bằng toàn bộ những lời này: người chết chưa từng khép lại thất bại của họ.

Palestine đã dạy tôi điều đó. Trong thảm họa, điều quan trọng không hẳn là cứu vớt những thế hệ sẽ đến, mà là giữ lòng trung thành với những thế hệ đã bị đánh bại, và tiếp tục, bằng chính sự sống của mình, công trình giải phóng mà họ đã để dở. Đó là mệnh lệnh âm thầm nhưng không thể trốn tránh. Tôi tin rằng chỉ theo con đường ấy, chúng ta mới có thể, như Benjamin từng nói, chính trị hóa nghệ thuật, và tạo ra những hình ảnh lịch sử mọc ngược chiều lông của thời đại. Dù thế nào, tôi vẫn tin: tất cả những gì chúng ta làm cùng Palestine, và vì Palestine — trên những con phố của thế giới hay giữa Địa Trung Hải — đều là dấu hiệu rằng chúng ta vẫn còn đang sống.

Như Omar Abdeljawad từng nói với tôi: chừng nào cùng một hơi thở cổ xưa ấy còn đi qua chúng ta, nối kết chúng ta và trú ngụ trong chúng ta, tức là sự khước từ mọi cái đã được định đoạt, thì chừng đó chúng ta còn sống. Chính hơi thở ấy nối liền người sống với những kẻ chết không thể bị khuất phục.

Và chừng nào hơi thở ấy còn lưu chuyển trong chúng ta, thì cả người chết lẫn người sống đều chưa từng khép lại thất bại của mình.


                     Notre Musique, J.-L. G

 

Fragmentary Thoughts on Grace and Necessity (2)

  When one is borne to one’s extremity, when all illusions are dissipated, when the support with which one concentrates the force he sustain...