Khi tôi về thì lúc nào cũng là cuối ngày. Trong căn phòng không bao giờ bật đèn, và những bức tường trắng dần ngả sang xanh đậm và tím sẫm. Khi cố nhìn, tôi không thể phân biệt được chi tiết của đồ đạc hay vật dụng, và đường nét gương mặt anh cũng tan biến theo cùng một cách. Căn phòng không rộng. Theo thời gian tôi dần hiểu rằng đó là một trong những thói quen kỳ quặc của anh ta: ngồi yên lặng trong không gian này và nhìn ánh nắng rút khỏi ngày, đồng thời (anh nói với tôi) cảm nhận chính mình cũng đang phai đi hoặc giãn nở trong bóng tối. Trước hết là xuyên qua chính căn phòng, rồi tràn ra ngoài, vào khoảng không trống rỗng bên kia cửa sổ, cao lên từng ấy tầng so với con phố phía dưới. Bình thản chìm vào bóng tối, anh luôn ngồi ở vị trí đối diện tôi, để bóng dáng tôi hiện lên trước những tấm kính màu chì rộng và phát sáng chiếm trọn một bức tường của căn phòng. Bầu trời xanh đậm, gần như đen, và những tia nắng cam cuối cùng lóe lên như vệt lửa vạch ngang bề mặt kính của các tòa nhà ngân hàng lấp đầy trung tâm thành phố. Lúc chạng vạng bao giờ tôi cũng trở về căn hộ đẹp đẽ đó, xây trên những con kênh của khu ngân hàng. Tôi nghĩ anh thích nhìn cách cơ thể trẻ hơn của tôi sắp đặt không gian mở; cách bóng tối tụ lại trên ngực và cánh tay tôi, trong hõm cổ họng tôi. Khi nhớ lại những buổi chiều ấy, chúng kéo giãn một cách kỳ lạ. Anh ngồi im lặng còn tôi thì dần mê sảng, mất cảm giác về thời gian, và sự giãn nở cùng ánh sáng phai tàn ấy đóng khung hoàn hảo một phần nào đó trong tôi mà khi ấy tôi thấy mờ tối và đến giờ vẫn vậy; một thứ gì đó vừa phàm ăn vừa sinh động, đồng thời lại phảng phất mùi chết chóc. Nhưng cũng là một thứ hài hước, mà mỗi khi tôi chạm được tới nó, nó lại nhắc tôi nhớ tới những nhà văn tôi yêu, những người mà chính sự hài hước đã bảo đảm cho họ đi qua được những phong cảnh của đau đớn và sa đọa. Tôi từng nghĩ họ hẳn là bất khả hủy diệt. Tôi chưa bao giờ biết có phải chính phần này trong tôi đã giữ được sự quan tâm của anh hay không, nhưng tôi trở lại hết lần này đến lần khác vì đó là thứ tôi không dễ kết nối, và vì tôi tìm thấy khoái cảm trong sự kết nối ấy; và cũng vì tôi thích cách đôi khi anh mô tả tôi cho chính tôi nghe, nói tôi có thể làm gì, kể cho tôi những câu chuyện về giới hạn của tôi theo cách anh nhìn thấy: trí tuệ, thể chất, dục tính, đủ loại giới hạn. Tôi thích được nghe người khác nói về mình, và cũng thích quan sát cách những bất an của chính anh lộ ra trong những phán xét ấy. Tôi không biết anh có thích quãng thời gian chúng tôi ở bên nhau không. Thành thật mà nói, tôi nghi ngờ rằng anh có bất kỳ khả năng tiếp cận nào với những kiểu khoái cảm như thế. Nói chung anh luôn bị ám ảnh bởi công việc, mà anh nói với tôi nhiều lần là việc tổng hợp và trung gian giữa rất nhiều ngành học thuật khác nhau. Anh uống rượu, và khi say thì nói rằng thực ra anh là một kiểu cố vấn, và chuyên môn của anh được săn đón cả trong khu vực tư lẫn công. Theo thời gian, anh bắt đầu nói một cách trừu tượng hơn, về sự ngây thơ, hoặc về một lịch sử của hình ảnh mà anh đã lần ra trong nghiên cứu của mình; những hình ảnh của sự tàn ác, những hình ảnh của tra tấn. Anh gọi chúng là các công nghệ của đế chế. Anh bị ám ảnh bởi sự kiểm soát tâm lý và vật chất; đối với con người, cộng đồng, đối với quần thể và những ham muốn của họ. Anh nói nhiều về kể chuyện (dường như chỉ trên mạng) và về quang học, và về việc phát tán hóa chất vào hệ thống nước. Endorphin, chất kích thích, chất ức chế, đủ loại hormone. Những thứ độc chậm. Anh nói về tầm quan trọng của việc hiểu rằng cái chết và đau khổ là tùy tiện, rằng những điều ấy có thể xảy ra với bất kỳ ai, vào bất kỳ lúc nào. Anh đã phát triển một thí nghiệm tư tưởng để minh họa điều này: anh mô tả cho tôi một cỗ máy vô hình có thể được sản xuất hàng loạt và rải khắp đường phố thành phố một cách ngẫu nhiên, và sẽ xé nát bất kỳ ai không may bước vào nó. Khi anh nói như vậy, từ “ngây thơ” xuất hiện lặp đi lặp lại. Anh nói rằng để một cộng đồng có thể nhận ra chính mình, nó cần một hình ảnh về sự ngây thơ. Không có điều đó, các thành viên sẽ không thể đánh dấu những nạn nhân để hiến tế, và cộng đồng sẽ không bao giờ thực sự kết dính. Khi anh nói, tôi chơi trò phân ly, trôi gần rồi lại trôi xa khỏi căn phòng và khỏi giọng nói của anh, và cứ để cho tất cả những ý tưởng và công thức ấy trượt qua cơ thể tôi như những hoa văn hình thành trên mặt nước. Làn da trên ngực và mặt tôi giống như bề mặt của một hồ sâu mà tôi bằng cách nào đó đã chìm xuống đáy, một hồ yên tĩnh, đẫm ánh nắng vàng của cuối hạ, khiến các chuyển động của nước phát sáng và lấp lánh thành những mô thức, những thác đổ của ánh trắng chói và lửa cam lỏng. Từ lớp bùn mềm dưới đáy, tôi có thể nhìn chuyển động của bề mặt từ bên dưới, ngước lên qua từng mét, từng mét khoảng cách và những dòng chảy dày đặc chuyển động vô hình, lên tới không khí nơi nó vỡ ra và phồng lên, rồi cuối cùng vượt qua cả điều đó nữa, tới sự trống rỗng của bầu trời. Anh chưa bao giờ mời tôi uống rượu hay dùng chất gì khác, dù tôi nhớ rằng trong lúc ngồi đó, lúc rõ lúc mờ, một thứ tê hóa hóa học hay sự phân tán mơ hồ là điều duy nhất trên đời tôi khao khát. Dù sao thì tôi cũng sẽ không bao giờ hỏi anh. Những lời đáp của tôi rất dễ dàng, và tôi cố không đặt quá nhiều trọng lượng hay suy nghĩ vào chúng. Đó đơn giản là tất cả những gì tôi còn nhớ từ quãng thời gian ấy.
Bây giờ thì mọi thứ đã khác. Trước hết là tôi có những căn phòng và chỗ trú ẩn của riêng mình. Tôi có những hình ảnh của riêng tôi để sưu tầm và sắp đặt, để đóng khung và trưng bày, và thỉnh thoảng cũng để cất giữ an toàn khỏi tầm nhìn cho đến khi cần đến. Anh không thể ngăn tôi hay can thiệp vào bất cứ cách nào. Khi tôi đi bộ lúc chạng vạng, đó là qua những công viên ở rìa thành phố, và tôi không bao giờ bước vào khu ngân hàng nữa, cũng không còn đi dọc theo những con kênh được viền bởi những hàng đèn trắng gắt hoàn hảo kia. Nhưng tôi vẫn nghĩ về những danh sách của anh. Theo nhiều cách, danh sách của tôi cũng thô sơ không kém.
Tôi có một hình ảnh về một cánh cổng đá nhợt nhạt khổng lồ mở ra trên những bức tường của một thủ đô lục địa bị lãng quên. Nó cao hơn rất nhiều so với những tòa nhà của thành phố lùi dần vào hậu cảnh, rồi hòa vào làn sương xám của khói bụi và mây mù tạo thành nền cho bức tranh. Cổng đang mở, và khói đen đặc cuộn ra. Có những đám đông người tí hon chuyển động ở mặt đất, ép sát vào nhau thành một khối, nhưng không rõ là họ đang cố trốn thoát, hay đang tiến vào thành phố và làn khói cùng bất cứ thứ gì đang chờ họ ở đó.
Tôi có một hình ảnh về một thứ vũ khí do một người đàn ông chế tạo, kẻ muốn ám sát nhà vua của mình. Đó là một thứ kỳ lạ, thô ráp và chắp vá; thực ra là nhiều vũ khí buộc lại với nhau, với khoảng hai chục nòng chĩa ra từ cửa sổ tầng hai của một căn hộ mà nạn nhân dự định có thể một ngày nào đó sẽ đi ngang qua. Nó có mùi xăng, mùi sắt và cao su cháy. Căn hộ của người đàn ông gầy (gầy đến mức chắc hẳn đang chết đói) đã tạo ra cỗ máy kỳ dị này cũng có mùi như vậy. Bạn có thể thấy từng chiếc đinh tán được gia công ghép lại, từng đường khâu riêng biệt của cỗ máy, khi nó nằm đó, sẵn sàng và kỳ lạ là bất động. Tôi hy vọng rằng ít nhất cũng có một chút khả năng cho sự hài hước, rằng người đàn ông đói khát ấy đã kể chuyện cười trong lúc làm việc, dù chỉ là nói với chính mình.
Tôi có một hình ảnh mà thực ra là cả một chuỗi hình ảnh, một tập hợp những bề mặt bê tông cứng cáp được cắt khắc bằng những dụng cụ chính xác. Những vết cắt và đường khắc tạo thành một phần của những bố cục tuyến tính lớn hơn, trong đó còn có những mảng đổ màu rực rỡ và những lớp sơn dày chồng chất. Mỗi hình đều mô tả một thực thể đơn lẻ, một cơ thể có gương mặt và biểu cảm, đôi khi có thêm một, hai cử chỉ. Chúng trừu tượng nhưng không quá mức. Rõ ràng vẫn là những cơ thể con người. Tôi thích di chuyển chúng trong không gian, hoán đổi chúng với nhau; để chúng bước vào những cuộc đối thoại, có thể là khiêu vũ, đủ mọi thứ ngôn ngữ. Đôi khi biểu cảm của chúng rất đơn giản và dễ đồng cảm, và đôi khi tôi có thể dành hàng ngày, hàng ngày để ghép gương mặt mình với gương mặt của chúng, ghép chuyển động của mình, cảm giác của tôi về thế giới và thành phố đang chứa chúng tôi.
Tôi còn có những hình ảnh khác nữa, giờ thì đã hàng trăm, và tôi không thể dễ dàng nói cho bạn biết chúng đã thay đổi tôi ra sao, nhưng tôi có thể nói không chút do dự rằng sự thay đổi ấy thật tuyệt vời, sâu sắc, rõ ràng và đầy ánh sáng. Điều đó là thật. Nhưng vẫn còn một hình ảnh mà tôi hiếm khi cho phép bước ra ánh sáng. Đó là một bức tranh nhỏ về một cái hồ trong rừng. Nhỏ, tròn, và được viền bởi những cây và hoa rủ xuống trông như đang khóc. Bức tranh chỉ vẽ bề mặt của hồ, phản chiếu như một tấm gương. Nó không thể cho thấy độ sâu khủng khiếp của nó, lớp bùn đen ở đáy, những sinh vật ăn thịt lẫn nhau ở dưới đó. Nó nằm trong kho lưu trữ và tôi nghĩ là sẽ mãi như vậy. Đôi khi tôi mơ rằng cái cơ thể vẫn còn ở dưới đó, sâu hàng chục mét bên dưới mặt nước, và khi lo âu tràn ngập tôi (điều này thỉnh thoảng chắc chắn sẽ xảy ra — bạn cũng biết), đôi khi tôi còn nhìn thấy nó cả khi đang tỉnh. Tôi thấy thân thể trẻ tuổi treo lơ lửng, thanh thản, với ánh nắng loang lổ chơi đùa trên ngực và bộ máy tinh vi của cổ họng, một cơ thể mà không có hành động nào của tôi có thể cứu được, và tôi có lúc cảm thấy hoảng loạn, có lúc lại hân hoan. Không phải nhờ hành động, hay can đảm cá nhân, hay sự nhạy cảm, hay lòng trắc ẩn, và chắc chắn không có khả năng tái sinh nào cả, bởi tổn thương đã xảy ra rồi.
bản tiếng việt từ commission cho f Lillies in the Headlights, tháng 1 2026, dựa trên một số sự kiện, nhân vật và bản nháp mùa hè 2025
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét