Các khóa học đã theo học
Tôi đã đăng ký hai môn học: Khẩu ngữ tiếng Pháp B1 (FLE Oral B1) và Siêu hình học tiền phê phán: kinh nghiệm và thực tại (Métaphysiques précritiques: expérience et réalité).
Ngoài ra, tôi còn tham dự thính giảng tại trường các môn Các vấn đề sức khỏe đương đại từ một nhân học Spinoza (Les enjeux contemporains en santé depuis une anthropologie spinoziste), Siêu hình học của Aristotle (Métaphysique d'Aristote), Nhập môn triết học trung cổ (Introduction à la philosophie médiévale).
Bên ngoài các khóa triết học, tôi cũng thính giảng môn tiếng Pháp Văn học và điện ảnh (Littérature et cinéma), môn tiếng Anh Viễn Tây hoang dã trong điện ảnh Mỹ (The Wild Wild West in American Cinema), và môn văn học so sánh Văn học kỳ ảo (Littératures de l’imaginaire).
Ngoài École normale supérieure de Lyon, tôi cũng đến Université Jean Moulin Lyon 3 để thính giảng khóa học Mỹ học của tự nhiên kháng cự (Esthétique de la nature résistante) do tiểu thuyết gia nổi tiếng kiêm triết gia mới nổi Tristan Garcia giảng dạy.
Bên cạnh đó, tôi cũng tham dự vài buổi hội thảo về Baruch Spinoza do giáo sư Pierre-François Moreau chủ trì, cùng một buổi bảo vệ luận án tiến sĩ.
Nói chung, mỗi buổi học thường kéo dài khoảng ba tiếng, chia thành hai phần chín mươi phút. Trong giờ học hầu như rất ít có phần đặt câu hỏi hay tương tác; nếu có thì thường do giảng viên chủ động đề xuất, nhưng thời lượng cũng khá hạn chế, tổng cộng thường chỉ khoảng mười đến hai mươi phút. Theo phản hồi của một giảng viên, điều này dường như là phong cách đặc trưng của Lyon hoặc của trường cao sư; ở Paris thì không hẳn nơi nào cũng như vậy.
Hình dạng của các khóa học
Tiếp theo, dựa theo điều tôi suy đoán là tiêu chuẩn nghiên cứu của triết học Pháp, tôi sẽ liệt kê các khóa học mình tham dự theo thứ tự từ bất thường nhất đến khuôn mẫu nhất (thông dụng nhất). Cuối cùng, từ những đặc điểm ấy, tôi sẽ đưa ra một tổng kết — hay đúng hơn, một sự làm rõ.
Khóa học của Tristan Garcia là ngoại lệ nhất. Nội dung khóa học xoay quanh việc phân biệt và đồng thời đan bện hai khái niệm: chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện thực.
Sở dĩ khóa học này đặc biệt, là bởi đây là khóa duy nhất tôi gặp ở hai trường này có tính chất giới thiệu cái gọi là “French Theory”, tức “Lý thuyết Pháp”. Nói cách khác, khóa học bao quát rộng rãi việc giới thiệu và phân tích các triết gia Pháp hậu chiến, bao gồm nhưng không giới hạn ở Gilles Deleuze, Bruno Latour, Pierre Clastres.
Phương thức giảng dạy của ông kết hợp giữa kiểu đánh giá lập luận mang phong cách phân tích và việc sắp xếp lịch sử khái niệm một cách tỉ mỉ. Khi triển khai phần sau, ông thường chỉ nhấn mạnh vào một mệnh đề cốt lõi nào đó của tác giả, rồi từ mệnh đề ấy xây dựng nên toàn bộ bức tranh tư tưởng của người đó.
Trong khóa học Siêu hình học tiền phê phán, René Descartes và Nicolas Malebranche được giáo sư Pierre Brouillet giảng dạy như những hình thức siêu hình học trước khi triết học phê phán ra đời (đáng tiếc là tôi chỉ tham dự được hai buổi cuối). Còn Clémentine Lessard giảng về những nhà tư tưởng siêu hình học phần nào từ chối di sản của triết học phê phán, hoặc chất vấn một số tiền đề của nó (phần này tôi tham dự đầy đủ): Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Maine de Biran, Henri Bergson, Alfred North Whitehead, Gilbert Simondon.
Khóa học này vẫn tương đối đặc biệt. Cuối buổi học đầu tiên, Clémentine có nhắc đến Quentin Meillassoux như một đại diện đương đại của xu hướng từ chối ấy, đồng thời gợi ý rằng khóa học này ít nhiều cũng nên được hiểu trong một trường chủ đề gần gũi với ông. Theo như tôi biết, đây là lần duy nhất tôi nghe thấy cái tên này trong toàn bộ thời gian ở trường.
Khóa học yêu cầu sinh viên đọc trước các tài liệu dài khoảng năm đến sáu trang. Những tài liệu này hoàn toàn bao gồm các đoạn trích nguyên tác (extraits) do giảng viên tuyển chọn. Phần lớn các khóa học tôi tham dự cũng cung cấp các tài liệu tương tự, dù độ dài được chọn rất khác nhau: ngắn như tài liệu của khóa về Baruch Spinoza, trung bình chỉ khoảng một dòng đến hai đoạn; dài như khóa về triết học trung cổ, thường khoảng một đến hai trang.
Hiển nhiên, cách cung cấp các đoạn trích then chốt của lịch sử triết học rồi mở rộng bằng diễn giải như vậy đã làm giảm đáng kể áp lực đọc. Điều này hoàn toàn khác với hai kiểu khóa học lịch sử triết học mà tôi từng tiếp xúc trong nước (và có lẽ cũng chỉ có hai kiểu ấy):
(1) xoay quanh toàn bộ một cuốn sách hoặc vài chương sách, triển khai việc đọc gần trong suốt cả học kỳ (thường không dựa vào hay kết hợp với bất kỳ diễn giải có sẵn nào);
(2) dựa trên một chương trong giáo trình lịch sử triết học để giới thiệu sơ lược một tác giả nào đó (vì vậy thường cùng lúc chạm tới nhiều chủ đề thực chất cực kỳ khó).
Khác với điều đó, khóa học Siêu hình học của Aristotle do Laurent Lavaud giảng dạy chỉ đơn thuần cung cấp ba tác phẩm nguyên bản của Aristotle làm tài liệu tham khảo: Vật lý học (Physics), Siêu hình học (Metaphysics), và Các phạm trù (Categories). Ông không yêu cầu sinh viên đọc trước bất kỳ chương đoạn cụ thể nào trước giờ học. Không dựa vào bất kỳ tài liệu cố định nào, chỉ bằng sự chuẩn bị bài giảng rất đầy đủ, ông trực tiếp giới thiệu cho chúng tôi về mục đích luận, vận động của vật thể, và thuyết hình chất.
Tôi suy đoán rằng đây có lẽ là cách giảng dạy lịch sử triết học gần với truyền thống Pháp nhất. Điều gây bất ngờ là độ chính xác trong khóa học của Lavaud cho phép ông trực tiếp giới thiệu và phân biệt các phương án diễn giải khác nhau ngay trong bài giảng, đặc biệt là việc ông tham khảo rất hào phóng các công trình nghiên cứu từ thế giới Anh ngữ và Đức ngữ.
Ngoài giờ học, tôi đã liên hệ với giáo sư Pierre-François Moreau với hy vọng tham gia khóa học hoặc các buổi hội thảo về Baruch Spinoza do ông chủ trì. Tuy nhiên, mãi đến giữa học kỳ các buổi hội thảo này mới dần bắt đầu. Ông cũng rất rộng lượng khi dành thời gian gặp tôi riêng.
Trong phần phỏng vấn ở phụ lục của Experience and Eternity in Spinoza, ta có thể thấy thái độ của Moreau đối với lịch sử triết học: phải đi đến lịch sử triết học thông qua lịch sử của các ý niệm; không chỉ là lịch sử của ý niệm, mà mọi thứ liên quan đến triết gia và tác phẩm của họ đều phải được đưa vào xem xét — sự khác biệt giữa các phiên bản xuất bản đầu tiên, khác biệt giữa các bản thảo, những điển cố ngữ văn của ngôn ngữ cổ điển, các nghiên cứu khoa học… Mỗi chi tiết tưởng chừng không liên quan đều có khả năng trực tiếp ảnh hưởng đến một tranh luận diễn giải nào đó.
Trước khi gặp ông, tôi đã biết điều này rồi. Nhưng khi thật sự gặp mặt, tôi vẫn thấy xúc động. Mọi nhận xét của ông đều rất ngắn gọn:
“Baruch Spinoza có từng nói về tính nội tại không? Không, ông chỉ nói về nguyên nhân nội tại.”
… phần lớn chỉ là những câu ngắn một hai dòng như thế.
Nghiên cứu triết học Pháp — chưa từng “hậu hiện đại”
Trong nửa năm vừa qua, dường như tôi đồng thời ở nơi xa nhất và gần nhất với triết học Pháp. Tôi đã chứng kiến một kiểu khảo cứu lịch sử triết học có thể xem là cổ điển, khô khan đến cực độ; đồng thời cũng thấy những lập luận ứng tác của các tác giả nguyên bản có lẽ thuộc hàng tiên phong nhất hiện nay.
Dù xa hay gần, điều họ cùng chia sẻ là sự chất phác và lao lực. Điều đó khiến tôi cảm thấy mình cần phải cố gắng đảo ngược một ấn tượng phổ biến, đưa ra một sự làm rõ: rằng triết học Pháp đương đại gần như bị đồng nhất với cái gọi là “lý thuyết hậu hiện đại thời thượng”. Ấn tượng phổ thông này về triết học Pháp hoàn toàn bị chi phối bởi cách thế giới Anh ngữ tiếp nhận các phong trào triết học hậu chiến.
Ở Pháp, chủ nghĩa hậu hiện đại chưa từng thực sự tồn tại; chủ nghĩa hậu cấu trúc cũng vậy. Khi một người quen thuộc với ngữ cảnh triết học Pháp nghe người ta xếp Michel Foucault, Jacques Derrida, Gilles Deleuze vào cùng một nhóm, phản ứng của họ chỉ có thể là bối rối: họ hoàn toàn khác nhau.
Jacques Derrida cùng với Jean-Paul Sartre, Maurice Merleau-Ponty, Emmanuel Levinas tạo thành phong trào hiện tượng học Pháp; Michel Foucault tiếp nối truyền thống nhận thức luận Pháp; còn Gilles Deleuze thì gần với hướng tiếp cận lịch sử triết học mang tính cấu trúc của Étienne Gilson, Martial Gueroult, và Goldsmith hơn.
Khi tôi cho rằng ở Pháp không hề tồn tại hai “chủ nghĩa” này, bằng chứng của tôi là: chưa từng có bất kỳ triết gia hay lý thuyết gia Pháp nào tự nhận mình thuộc về các phong trào ấy. Dĩ nhiên, tự nhận thức không phải là bằng chứng duy nhất; nhưng khi không có bằng chứng tự nhận thức, thì chính sự quy thuộc ấy vốn dĩ phải chịu một sự kiểm tra nghiêm ngặt hơn nhiều.
Điều tôi muốn nhấn mạnh là: “hậu hiện đại” và “hậu cấu trúc” là hai khái niệm lịch sử tư tưởng vừa mong manh vừa cực kỳ dễ gây hiểu lầm. Chúng không hề thực hiện được vai trò làm sáng tỏ mà lẽ ra phải có đối với các vận động tư tưởng hậu chiến ở Pháp. Ngược lại, không chỉ bị sử dụng thiếu chính xác và lạm dụng, chúng còn luôn mang tính kỳ thị hóa.
Triết học Pháp chưa bao giờ bị các “nhà hậu hiện đại” chiếm lĩnh (dù là những người bị người khác gán cho danh xưng ấy, hay những người tự nhận mình như vậy. Dù may hay không may, nhóm trước luôn chỉ có số lượng hữu hạn; còn nhóm sau thì hoàn toàn không tồn tại). Nếu muốn biết dòng chính của triết học Pháp là gì, chỉ cần mở trang của khoa triết tại École normale supérieure hoặc Sorbonne University, xem những giáo sư mang chức danh chính thức đang nghiên cứu lĩnh vực nào, chúng ta sẽ có câu trả lời.
Nói ngắn gọn, các triết gia Pháp từ trước đến nay vẫn luôn làm công việc nghiên cứu lịch sử triết học, bao gồm nhưng không giới hạn ở các hướng tiếp cận ngữ văn học, lịch sử ý niệm, cấu trúc luận và phân tích đối với lịch sử triết học. Collège de France có một giải thưởng mang tên “Grand Prix”, trong đó phần lớn các triết gia được trao giải đều làm công việc liên quan đến lịch sử triết học hiện tượng học và phân tích triết học; có thể xem đây là hình thức tương ứng, trong thế giới Pháp ngữ, với các bài giảng Locke Lecture của triết học phân tích Anh ngữ.
Trong số đó, Jacques Bouveresse và Vincent Descombes hoàn toàn hoạt động trong lĩnh vực triết học phân tích. Việc triết học phân tích được tiếp nhận và ảnh hưởng ra sao tại Pháp bản thân cũng là một chủ đề rất thú vị, nhưng đáng tiếc là các nghiên cứu của những người như Wolff, Nef hay Benoist lại có ảnh hưởng khá hạn chế trong thế giới Anh ngữ; có lẽ họ đơn giản là không được cần đến.
Cần lưu ý rằng khi tôi đưa ra những làm rõ này, tôi hoàn toàn không đưa ra đánh giá nào cả. Tôi chưa từng nói rằng nghiên cứu lịch sử triết học là cách làm triết học tốt hơn so với cái gọi là “hậu hiện đại”.
“Các nhà nghiên cứu triết học Pháp không làm French Theory” — đó không phải một phán xét giá trị, mà chỉ là một sự kiện.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét