Nói một cách rộng nhất, toàn bộ lịch sử nghệ thuật quả thực đều được xây dựng trên cơ sở của những tái sáng tạo lần hai. Nhưng trong viết lách, việc trực tiếp chép lại từng đoạn những câu chữ hay trước hết không thuộc phạm trù mô phỏng hay vay mượn theo nghĩa rộng; nó chắc chắn không giống với việc cải biên từ nguyên mẫu của một câu chuyện, cũng không giống với nghệ thuật ghép sẵn (ready-made / collage), và càng khác hẳn với những sự tri ân (homage) trong điện ảnh- vốn được đặt ra một cách rõ ràng vì mục đích thẩm mỹ hoặc thú vị.
Nếu một bộ phim lén lút sao chép nguyên một đoạn phân cảnh và cách dàn dựng cảnh (mise-en-scène) của phim khác, thì trong bối cảnh hiện nay chắc chắn cũng sẽ bị chỉ ra là đạo nhái. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, điện ảnh vĩnh viễn không thể đạt tới dạng “tẩy bản thảo” như trong văn học. Tính hiện thân của nó, cũng như những điều kiện môi trường và kỹ thuật cụ thể cần thiết để tạo ra hình ảnh, khiến cho mỗi hình ảnh đều độc nhất vô nhị; không thể giống như chữ viết, có thể trực tiếp copy-paste. Nếu trực tiếp sử dụng hình ảnh có sẵn, thì ngược lại nó lập tức bước vào phạm trù nghệ thuật collage, rất khó đạt tới kiểu “đạo văn” theo nghĩa của văn học.
Một vấn đề liên quan khác là: một đoạn văn là chép lại hay do chính mình viết, ngoài những tranh cãi về đạo đức sáng tác ra, về mặt bản thể học nó có ảnh hưởng gì tới bản thân đoạn văn ấy không? Nói cách khác, ngoài việc chứng minh sự lười biếng của người viết, cũng như việc đạo văn xâm phạm quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ, thì nó có thể ảnh hưởng đến văn học như một thực thể nghệ thuật hay không?
Theo tôi thì vẫn có. Bởi khi chúng ta đọc văn học, mối quan hệ giữa chúng ta và văn học không bao giờ có thể giản lược thành mối quan hệ với những chữ in trên giấy. Thực ra ở đây còn ngầm tồn tại một tiền đề: mối quan hệ giữa tác giả và những chữ ấy. Đặc biệt là với những tác phẩm mang ý nghĩa ghi chép đời thực như của Annie Ernaux, chúng ta cần phải biết, và phải tin, rằng tác giả viết ra những dòng chữ này một cách thành thật. Không phải nói rằng chúng nhất thiết phải là sự thật của hiện thực, không được hư cấu hay bịa đặt; mà là chúng ta phải tin rằng những chữ ấy được tác giả suy nghĩ và trải nghiệm bằng chính thân thể mình, trong đó chứa đựng tính chủ thể của tác giả (dù là bị động hay chủ động). Chỉ như vậy mới có thể cấu thành cái gọi là “viết”. Nếu không, thì đó chỉ là việc xào trộn và ghép nối câu chữ để đạt được một vài “hiệu quả” nào đó.
Sự thật là chúng ta đọc một câu văn chưa bao giờ chỉ để nhận được một hiệu ứng tu từ, cho dù nó có đẹp đến đâu. Tác giả cũng không nên viết chỉ vì “câu hay chữ đẹp”. Thực ra điều này không chỉ liên quan đến việc có đạo văn hay không; nhiều người không hề đạo văn, nhưng việc viết của họ vẫn hoàn toàn là chủ nghĩa hiệu quả. Điện ảnh cũng vậy. Dĩ nhiên, với văn học thể loại (hoặc điện ảnh thể loại), hay những dạng viết mang tính chức năng nhiều hơn, thì việc sử dụng chữ (hoặc ngôn ngữ hình ảnh) mang tính công cụ mạnh hơn, nên vấn đề này không quan trọng đến thế.
Ở một mức độ nào đó, sự chán ghét AI hiện nay cũng xuất phát từ cùng một lý do: bởi AI vĩnh viễn chỉ có thể sản xuất ra hiệu quả. Vì thế AI thích hợp hơn để tạo ra văn bản mang tính công cụ, và cũng dừng lại ở đó. Bởi nghệ thuật phải luôn được xây dựng trên sự thành thật này. Ngay cả nghệ thuật collage cũng vậy: nó vẫn cho phép chúng ta nhìn thấy, ở một tầng khác, suy nghĩ và lựa chọn của tác giả trong cách tổ chức những chất liệu sẵn có (những tác phẩm sử dụng hình ảnh AI như một chất liệu để sáng tác, chứ không hoàn toàn giao việc sáng tác cho AI, cũng theo logic tương tự).
Thực ra nếu nói triệt để, nhiều nghệ thuật về bản chất đều là collage: hình ảnh điện ảnh là việc cắt nhỏ và tổ chức những thứ đã có; viết lách chẳng phải cũng là một dạng dàn dựng những kinh nghiệm ngôn ngữ đó sao? Nhưng “bản chất” ấy không làm thay đổi thực tế rằng giá trị chủ yếu của những phương tiện này cuối cùng vẫn đến từ suy nghĩ thành thật. Vì vậy, dùng những câu kiểu “từ xưa văn chương đều là chép”, hay “lịch sử nghệ thuật là lịch sử của sự mô phỏng”, để biện hộ cho đạo văn thực chất chỉ là ngụy biện.
Chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc nói với chúng ta rằng một văn bản có thể không có quyền diễn giải tối cao, thậm chí ta có thể nói rằng chỉ cần nó tồn tại trong một ngữ cảnh nào đó, trong một cấu hình vận hành nào đó, thì không tồn tại một tác giả đơn nhất, mọi người đều tham gia vào quá trình sản xuất nó. Nhưng một văn bản có giá trị phải là dấu vết của một suy nghĩ thành thật, chứ không phải sự tăng sinh cơ học và trang trí. Tôi chưa bao giờ tin vào sự khiêu khích pop kiểu Andy Warhol; huống chi nó còn theo một cách tệ hại và lệch lạc, tận dụng tối đa tính chủ thể của tác giả.
Điều kiện để “tác giả đã chết” là tác giả từng sống.
Tuy nhiên, xét cho cùng, nếu không có những bảng màu so sánh và các phần mềm kiểm tra đạo văn, có lẽ chúng ta căn bản không thể phân biệt ai đạo văn và ai không. Vì thế cũng có thể nói rằng mối quan hệ thành thật giữa tác giả và chữ viết cuối cùng chỉ là một ảo tưởng, bởi thứ mà chúng ta có thể trực tiếp tiếp xúc chỉ có hiệu quả của văn bản, và từ lâu đã có người chỉ ra rằng hiệu quả ấy rất dễ đánh lừa.
Nhưng nếu đó là ảo tưởng, thì nghệ thuật vốn dĩ được xây dựng trên sự vận hành của nhiều ảo tưởng như vậy. Trong những năm gần đây, internet đã bước vào cái mà tôi gọi là “thời đại đại giải thiêng”. Nghệ thuật đặc biệt đứng ở tuyến đầu của làn sóng phản quyền uy và phản thần tượng hóa. Vì thế có người cố gắng bàn về nghệ thuật trên cơ sở loại bỏ mọi ảo tưởng, và kết quả cuối cùng thường chỉ có hai khả năng: hoặc rơi vào những phê phán giáo điều cứng nhắc, hoặc dẫn tới một thứ chủ nghĩa dân túy tiêu dùng chống trí thức. Nhưng khi có người chỉ ra rằng đó là sự phản ứng quá đà, thì dường như lại rơi vào một khuôn sáo khác.
Thực ra, những tranh luận kiểu này cánh tả của thập niên 1960 đã từng trải qua một vòng rồi. Nhưng đó lại là một câu chuyện dài khác…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét